LINH SON TEMPLE

Our voice that calls the Buddha is Buddha’s voice that's calling us.


2 Comments

Trái Bầu hình Phật Di Lặc

click on image

Sau 6 năm trời miệt mài nghiên cứu, nghệ nhân Zha (Lanzhou, Gansu, Trung Quốc) đã tìm ra cách nuôi trồng những giàn bầu, bí cho ra nhiều trái có đủ mọi hình dạng khác nhau từ hình trái bóng, quân cờ, tới hình tượng đức Phật.

Nghệ nhân Zha cho biết đây là những tác phẩm tâm huyết của ông, đặc biệt là những trái bí có hình tượng đức Phật Di lặc như trong hình vẽ. Để gây trồng được những trái bầu bí như thế này, ông Zha phải bỏ ra một thời gian rất dài nghiên cứu và tốn không ít công sức.

Nhiều bạn trẻ khi được ngắm nhìn những tác phẩm nghệ thuật ngộ nghĩnh và kì lạ này đã tình nguyện làm học trò của vị nghệ nhân tài hoa xứ Gansu, Trung Quốc.

cmvn.org.vn
Cây trồng cho quả hình


Leave a comment

Sự Tích Đức Di Lặc (Kiếp phó Đại Sĩ)

Di LacHồi đời Lục Triều, Đức Di Lặc lại ứng tích làm phó Đại sĩ ở tại Chùa Song Lâm một thời kỳ nữa.
Khi Ngài ra mắt Lương Võ Đế, vua liền hỏi Ngài rằng :”Xin Đại sĩ cắt nghĩa cho quả nhơn nghe làm sao kêu là : Đạo?”
Ngài liền bạch rằng: “Tâm thiệt là Đạo”, tôi xin chứng nghiệm như vầy, thì bệ hạ đủ hiểu.
Khi bệ hạ chưa lên ngự tại điện này, trong tâm lúc ban đầu chưa khởi niệm, bổn trí vẫn tự nhiên mà được diệu tịnh quang huy, sáng suốt hiện buổi nay, rực rỡ đến thuở trước, và đầy lấp tất cả cõi Thái hư, cái tịnh quang ấy muôn đời không sanh, vĩnh kiếp không diệt, chẳng phải Thánh mà cũng chẳng phải Phàm, không thúc phược mà cũng không giải thoát.
Đó là tâm thể rất mầu nhiệm và rất vắng lặng. Ngoài cái tâm không có đạo gì riêng khác, và ngoài đạo cũng không có tâm nào phân biệt nữa, vì thế cho nên mới gọi: “tâm là đạo”.
Vua Võ Đế lại hỏi nữa rằng: “Vậy chớ Đại sĩ có tôn ai làm Thầy hay không?”
Ngài bạch rằng: “Thầy thì không có ai là Thầy của bần đạo, còn tôn thì bần đạo cũng không có tôn ai, đến việc tùng sự, thì cũng không có tùng sự với người nào cả”.
Vua Võ Đế nghe Ngài nói như vậy, thì biết là một vị Bồ Tát lâm phàm, nên càng tôn trọng Ngài một cách rất đặc biệt.
Đoạn Ngài lại thưa với Vua rằng: “Bệ hạ ngày nay mà đặng hưởng điều tôn vinh như vầy, nguyên nhân cũng là một vị Bồ Tát hạ trần mà cứu thế.
Vậy xin Bệ hạ phải mở thông ý địa, nên tự lượng nơi mình, tâm để cho thanh tịnh, đừng trước nhiễm vật gì, lấy đó làm căn bản, cần nhứt phải dùng chỗ hư linh làm cơ sở, lấy sự vô tướng làm nguyên nhơn, nguyện vọng chí thành cầu cho đạt tới chỗ Niết bàn mà làm cực quả.
Nếu bệ hạ thi thố những phương pháp trị quốc, thì phải dùng chánh pháp mà sửa trị trong thế gian, và thi hành những điều nhơn đức, đặng làm cho lê dân cảm hóa.
Trong triều thì trọng dụng những người hiền tài mà trừ khử mấy kẻ cưu lòng gian nịnh, còn ngoài thì thi nhơn chánh đến kẻ quan quả, cô độc, bỏ những hình phạt trừng trị nặng nề, và ban chánh lịnh cho có nghiêm minh trật tự. Nếu Bệ hạ trị vì trong thiên hạ, thi nhơn bố đức được như thế, thì kẻ xa người gần đều gội nhuần ơn đức vô cùng vô tận. Chừng đó việc can qua phải dứt, mà trong đội ngũ lại ninh bình, thì ngôi trời được hùng tráng mà an hưởng cuộc thái bình. Nếu chánh sách thi thố được công hiệu như thế, thì Bệ hạ thiên cơ đã thần diệu, lại còn nối ngôi quốc tổ được lâu dài nữa. Đó là bần đạo hi vọng sao cho Bệ hạ được như vậy”.

Có một ngày kia, ông Lưu Trung Thừa ngồi tại chỗ trạm dịch với Ngài, thoạt thấy có Thánh giá vừa đến, liền lật đật đứng dậy làm lễ, còn Ngài ngồi yên lặng một chỗ.
Khi Thánh giá qua khỏi rồi, ông Lưu Trung Thừa bèn hỏi Ngài rằng: “Theo ý tôi tưởng, Ngài chẳng chịu làm tôi với Thiên tử, không muốn làm bạn với Chư hầu, cớ sao mà lại ngã mạn như vậy, xin Ngài nói cho tôi rõ”.
Ngài liền đáp rằng: “Để bần đạo giải cho ông rõ. Phàm việc kỉnh mà biểu lộ ra hình tướng, thì không có tánh kỉnh, còn bề ngoài chẳng cử động sự kỉnh về lễ nghe tham bái, thì thiệt trong tâm có ẩn điều kỉnh vô giá. Bần đạo thấy Thánh giá mà động thân, thì pháp địa tự nhiên cũng rúng động. Hễ pháp địa rúng động, thì tất cả các pháp cũng chẳng an nhẫn, nếu các pháp chẳng an nhẫn, tức là không có kỉnh, nên bần đạo vẫn ngồi tự nhiên là vậy đó”.
Ông Lưu Trung Thừa nghe Ngài nói như thế, thì rất kỉnh phục.

Vua Lương Võ Đế biết Ngài là một vị Bồ Tát tái lai, nên thiết lập một chỗ pháp hội rất nghiêm trang, rồi thỉnh Ngài lên diễn kinh cho bá tánh nghe.
Khi trần thiết xong rồi, Ngài lên ngồi trên pháp tòa, lẳng lặng làm thinh được giây phút, chớ không nói một lời chi cả.
Trong đám người đến nghe kinh đó, có một vị Thái tử thấy vậy mới hỏi Ngài rằng: “Thưa Ngài! Đáng lẻ chỗ Chư Thiên nhơn cưu hội đây, Ngài phải giảng giải cho mọi người rõ thấu lẽ chơn chánh của Phật, đặng nhờ đó mà tu học mới phải, cớ sao Ngài làm thinh mà không biện luận nghĩa lý chi, lại vội xuống pháp tọa như vậy ?”
Ngài liền trả lời rằng: “Phàm việc gì nói hay là nín, đều thuộc về Phật sự cả. Như thế có phải làm đúng theo Phật lý hay không? Vậy mà ông còn buộc tôi nói năng làm chi nữa”.
Thái tử nghe mấy lời bèn làm thinh, trong lòng càng khâm phục Ngài vô cùng.

Cách ít lâu, Ngài ra mắt vua, rồi quì xuống mà tâu rằng: “Muôn tâu bệ hạ! Bần đạo có như ý bửu châu và thanh tịnh giải thoát, chiếu diệu rõ rệt đến mười phương. Nếu Bệ hạ chịu thọ lãnh mấy vật ấy, thì có ngày sẽ chứng đến quả Bồ đề. Vả lại các pháp chẳng phải có, mà cũng chẳng phải không, phàm vật gì thuộc về hữu tình đồng quy nơi thiệt tế . Các việc trong thế gian đều là bức tranh huyễn hóa, rốt cuộc rồi hoàn về chỗ không, cũng ví như trăm sông tuy phân ra muôn dòng ngàn mạch, nhưng tóm lại cũng chảy về biển.
Pháp Thế gian và pháp Xuất thế gian cũng chẳng qua là lý chơn như. Vì lý chơn như thiệt không có sanh và không có diệt, nên không có Niết bàn, tam thế cũng bình đẳng, mười phương đều thanh tịnh. Nếu lấy phần thanh tịnh bình đẳng ấy làm sự nhiêu ích cho các giống hữu tình, thì được đồng lên bờ giác ngạn.
Nếu chỗ sắp đặt phương pháp đặng như thế, thì cuộc trị bình trong thiên hạ sẽ hóa ra cảnh giới trang nghiêm. Đó là Bệ hạ dùng diệu pháp mà tế độ nơi đời, được như vậy thì các khác nào như một vị Từ Bi Vương tái thế”.
Vua Lương Võ Đế nghe mấy lời của Ngài biện giải, càng thêm tôn sùng kính trọng hơn nữa.

Khi Ngài ở tại Chùa Song Lâm, thấy Kinh tạng chứa đầy, Ngài biểu mấy đạo chúng đem từng cuốn mà tả ra. Bổn ý của Ngài muốn khiến cho kẻ sơ địa phàm phu nhờ công đức chuyển kinh đó mà đạt tới nơi chánh chơn của Phật.
Bởi vậy trong thiên hạ, duy có chỗ Song Lâm, thì Thiên Long thường ủng hộ, nên kinh tạng được toàn bổn mà lưu truyền đời sau.

Thoạt một ngày kia, có một làn định quang kim túc của Đức Thích Ca, mùi thơm bát ngát, từ phương đông bay đến mà nhóm nơi mình của Ngài.
Bỗng nhiên có tiếng xướng rằng: “Phó Đại Sĩ xuất hiện ra đây, là thay thế cho Đức Thích Ca mà thuyết pháp, ngồi trên chỗ Long Hoa thắng hội mà chỉ rõ cái bổn nguyện từ mẫn của Đức Văn Thù và xiển dương huệ tập phổ thế của Đức Quán Âm”.
Rõ ràng Ngài cũng như bực y vương, đại thí những lương phương diệu tể mà điều trị tất cả bịnh vô minh phiền não. Thiệt là Ngài có công phu rất lớn và nhiều phương pháp khởi tử siêu sanh.

Có một bửa kia, khí trời nóng nực, Ngài ra ngoài gành biển mà hóng mát, dòm thấy dưới mé có một vùng quanh co theo bờ, và dân cư tại đó chỉ làm được ruộng muối mà thôi. Hễ đến thời tiết mùa thu, thì nước biển tràn lên linh láng, không thế nào mà ngăn cản cho đặng.
Ngài thấy vậy, liền nói với những người bổn xứ rằng: “Bần đạo muốn làm sao cho chỗ này thành ra ruộng tốt, để cho bá tánh cày cấy đặng nhờ đó mà an cư lạc nghiệp”.
Dân chúng nghe mấy lời ấy, đều cười rộ lên mà nói rằng: ” Ông này thiệt điên cuồng! Thuở nay thiền biển mà ai làm thành ruộng cho đặng bao giờ ?”
Ngài thấy dân chúng không đem lòng tin, liền lấy bao đựng cát đem chất xây giáp vòng như vách lũy mà bao ngạn luôn bãi cát ấy.
Lạ thay! Trọn một vùng bờ đê của Ngài làm đó, cách ít lâu cứng cũng như đá vậy, ngăn được ngọn nước thủy triều ngoài biển, không thế nào chảy vô được nữa, nhưng hồi Ngài làm đó có chia ra ba chặng, để ngừa khi Trời hạn và nước lụt.
Đến sau, nội trong khu đất ấy đều thành ra ruộng cả, ước chừng hơn hai ngàn mẫu, thường năm cày cấy đặng mùa luôn luôn. Dân cư trong xứ mỗi năm gặt lúa rồi, trích ra một phần ba để cung cấp cho tăng đồ trong các Chùa lân cận, mua chim cá mà phóng sanh, và làm nhiều việc phước thiện khác nữa.
Hiện nay mấy cái bờ bằng cát của Ngài làm đó hằng bền chắc, không có hư rã chút nào.
Thiệt là linh cảm thay chỗ di tích của bực Đại Thánh ngày xưa! Cho nên dân cư ở dọc theo mé biển ấy đều được phong y túc thực luôn luôn, cùng nhau lập Chùa thờ Ngài và truy tặng ruộng ấy là “phước điền”.

Sau Ngài qua phía Nam núi Phong Sơn mà chỉ điểm những chỗ ẩn tích nơi thâm khê cùng cốc, rồi mấy nơi ấy lần lần trở nên phong cảnh rất thiên nhiên và nét xuân quang bốn mùa đều xuất sắc.

Bửa nọ, Ngài đi chơi tới xứ Bắc thượng, chợt thấy một người đương sửa soạn làm thịt loài súc.
Ngài lật đật chạy lại can rằng: “Bần đạo xin tỏ cho nhà ngươi nghe. Tất cả loài súc sanh, nguyên nhân cũng là người thế gian, chớ không phải khác đâu, vì tạo ác nghiệp rất nặng nề, nên nay phải chịu khổ quả như vậy. Thoảng như mình làm điều phước thiện mà một đời chẳng được giàu sang, thì cũng còn có ngày trông giải thoát, chớ tạo nghiệp sát sanh như vậy, thì ngày sau khó tránh khỏi luân hồi khổ thú.
Bần đạo nguyện sao nhà ngươi hồi tâm tự lượng, đem tấm lòng nhân từ mà dung thứ những loài động vật, vì nó cũng đủ cả Phật tánh và cũng biết ham sống sợ chết như ta vậy.
Những người có nhơn hằng lấy con mắt Từ mà quán xét, xem vạn vật với ta đồng một thể, và muôn tượng với ta đồng một gốc. Nếu tấm lòng nhơn ái được như thế, thì chẳng những trọn đức từ bi lợi vật một thuở mà thôi, lại nhiều kiếp được trường thọ là khác nữa”.
Người ấy nghe Ngài phân giải như vậy, liền tỏ ngộ và chung thân không dám sát sanh loài động vật nữa.
Lại có một khi, Ngài đương đi ngoài đường, tình cờ gặp một người nông phu vừa cột một con trâu, đặng tính bề làm thịt.
Ngài đi hối hả lại can rằng :”Phàm ở đời, có nhơn thì có quả, không có sai chạy mảy nào, đó là lẻ cố nhiên như vậy. Hễ giết loài vật, thì có ngày chúng nó cũng giết lại, vậy mà trong đời có ai biết sợ sệt đâu, non dao rừng kiếm với vạc dầu ở chốn âm ty, để trừng trị những người tạo ác nghiệp như ngươi vậy, thì đời kiếp nào mà trông phần giải thoát cho đặng”.
Người nông phu nghe Ngài nói như thế, liền cúi đầu đãnh lễ và nguyện trọn đời không dám tái phạm nữa.

Ngài thường đi chơi ngoài đồng, bữa nọ lại gặp một ông Sa di hỏi Ngài rằng: “Thưa Đại Sĩ! Làm thế nào mà hàng phục được vọng tâm của mình ?”
Ngài nghe hỏi, liền trả lời rằng :”Tâm là vật gì đâu mà ông phải tìm cho uổng công phu. Vả lại vọng tâm thiệt không có căn bản, hễ buông nó ra thì không thấy dấu tích gì là vọng. Bởi bị các duyên đeo đuổi lăng xăng, nên mới thành ra vọng niệm như vậy. Nếu nhứt chơn của ta đặng yên tịnh rồi, thì toàn thể như như phóng ra khắp cả pháp giới và bốn thể vẫn tự nhiên mà rõ rệt. Chừng đó, dẫu cho bụi trần cấu cũng không có thế nào mà che lấp cho đặng, thì có vật chi đâu mà ngươi gọi rằng điều phục”.
Ông Sa di nghe Ngài biện bạch như thế, vùng tỏ ngộ và tôn kính vô cùng, rồi đãnh lễ mà từ giã.

Cách ít lâu Ngài đi chơi, chợt thấy một ông Sa môn còn nhiễm theo tục trần, cứ khu trục trong trường mộng ảo.
Ngài bèn đón lại mà chỉ dụ rằng :”Bần đạo coi ông vốn thiệt là Phật. Lẽ nào ông nên tự độ lấy mình, đặng mong có ngày chứng đặng quả vô sanh pháp nhẫn, cớ sao ông lại còn yễm trợ theo thói phàm tình, đành che lấp bổn lai diện mục như vậy?
Bây giờ ông phải bỏ các duyên cấu trược, mà giũ sạch những thói tà phong, ráng sức công phu mà suy tìm trong tâm thể vô sanh, thì có ngày sẽ đạt tới chỗ diệu minh chơn tánh. Nếu ông hồi quang phản chiếu cho toàn thủy toàn chung rồi, sẽ đặng vô ngại viên thông.
Bần đạo ao ước làm sao cho ông được như thế, thì có khác nào một vị La Hán xuất trần, nếu chẳng vậy thì cũng làm một vị Khuất sát trượng phu. Chớ cách hành động như ông đó, thì đã không có ích cho mình, mà lại uổng công xuất thế học đạo vô vi, đến chung quy cũng còn lăn lộn trong đường Lục đạo, biết chừng nào mà thoát ra khỏi đặng vòng sanh tử. Như vậy có khổ hay không ?”
Ông Sa môn nhờ Ngài điểm hóa, nên liền tỏ ngộ lý chơn thừa. Từ đó về sau, ông càng lo tu học, không còn nhiễm nữa.
Thiệt cách phô tế của Ngài không khác nào một ông lương y, đã điều trị không biết bao nhiêu là chứng trầm kha phế tật, rõ ràng một hột minh châu có thể chỉ sắt hóa nên vàng, một lời pháp ngữ có thể đổi người phàm trở nên bực Thánh.

Bởi vậy cho nên Ngài thường dùng những phương pháp thiền định rất giản dị mà độ thoát tất cả chúng sanh qua khỏi sông mê bể khổ, dẫn dụ người đời ra khỏi nhà lửa đường mờ.
Ngài lại chẳng nên sự cấu nhục của thế tình, cứ xen lẫn trong chốn trần lao, mà thi hành những sự lợi ích cho hạng người còn sống say thác ngủ. Vì vậy cho nên trong tám phương hồ hải, chỗ nào cũng là chỗ viên giác đạo tràng của Ngài thế thác cả.
Còn đối với thập loại chúng sanh, thì Ngài càng đem lòng quyến luyến như con một cha, như người một nhà, không phân biệt nhơn ngã, và không biện luận Bắc Nam, vì tất cả chúng sanh thảy đều đủ chơn như diệu tánh như Ngài vậy, nhưng vì bị màn vô minh che lấp, nên phải trì trục trong vòng khổ hải sầu thành đó thôi!

Ngài thường đối với quần chúng mà nói rằng: “Muôn tượng chỉ bao la, song một mảy trần chẳng lập, nhứt chơn trong pháp giới, trăm hạnh đều phân vân. Tuy vậy chớ không lọt ra ngoài vòng như như chí lý, cho nên động tịnh đều là pháp tham thiền, nếu một niệm mà được khế chơn, thì sẽ có ngày mau lên bờ bỉ ngạn.”

Đó là lời pháp ngữ của Ngài phát ra những lý mầu nhiệm của thiền gia, để bủa khắp chốn mê đồ, đặng mở rộng những nghĩa huyền tôn trong tâm địa, trước là thâu thập những người có lợi căn, sau là thức tỉnh số người còn độn trí. Thiệt công phu của Ngài đến vô lượng vô biên, lòng phổ tế trong đời cũng vô cùng vô tận.

Đến đời Lương, nhằm khoảng vua Quân Vương trị vì, niên hiệu Trinh Minh, năm thứ hai, ngày mùng ba tháng ba, Ngài đối trước chúng nhơn mà nói rằng: “Qua năm tới đây, cũng ngày này và tháng này, thì ta đem trái “Di Lặc” mà cúng dường cho đại chúng”.
Quả nhiên qua năm sau, cũng trong ngày ấy và tháng ấy, đại chúng thấy Ngài ngồi kiết già trên bàn thạch, gần bên Chùa Song Lâm mà nhập diệt. Ai nấy thảy đều kinh dị và than thở vô cùng.

Trong đại chúng mới hiệp lực cùng nhau kết khám mà để thi hài của Ngài, rồi làm một tòa bửu tháp rất tôn trọng, ngoài ngạch bia có khắc hiệu là: Định Ứng Tháp.

Hiện nay tại chỗ bửu tháp ấy, tuy trãi mấy phen tang thương biến đổi, mà công trình vẫn còn đồ sộ như xưa, thánh tích nguy nga, xa trông vọi vọi, bốn mùa người đàn Việt tới lui chẳng ngớt, một phương trời chuông trống rất oai nghiêm.

Đức Di Lặc tuy chưa đến thời kỳ xuất thế, nhưng tấm lòng từ bi vô hạn đối với tất cả quần sanh, đôi phen tùy theo cơ duyên thục thác mà ứng tích nơi đời, đặng nêu bày lẽ chánh tôn định huệ, cố ý nhiếp trì những hạng người đương chìm đắm nơi sông ái hà, và ra công phổ độ những kẻ bị chới với giữa dòng khổ hải.

Thiệt công đức của Ngài không có bút mực nào mà mô tả ra cho hết đặng.
Từ ấy chí nhẫn nay, có trên ngàn năm mà phước điền của Ngài còn lưu trụ các điện Đại hùng, thiện quả vẫn còn bủa khắp nơi trong thế giới.
Chẳng những mười phương đảnh lễ tôn sùng Ngài mà thôi, cho đến sáu chữ “Nam Mô Di Lặc Tôn Phật” thì người thường một lòng trì niệm, chẳng có chút nào biến đổi cả.

Nói tóm lại, Đức Di Lặc còn nhiều số kiếp nữa mới xuất hiện ra đời, để nối ngôi cho Đức Thích Ca mà làm một vị Phật thứ năm trong Hiền kiếp, đặng đại chuyển pháp luân mà tế độ muôn loài và phổ lợi trong sa giới.
Nhưng ngặt vì chúng sanh chưa rõ lẽ thiện chơn, cứ vọng tưởng những việc huyễn hoặc, mà đành chịu sa chìm vào nơi khổ hải và tự mình chuốc lấy nẻo luân hồi.
Chớ Chư Phật tuy đã nhập diệt rồi, song Tam Bảo còn lưu trụ khắp cõi nhơn gian, nếu ai hết lòng tinh tấn vui theo mà thọ trì, thì cũng như Phật đương trụ thế vậy.

Tiếc thay! Người đời trí cạn chướng sâu và tội nhiều phước ít, cho nên đối diện ngôi Tam Bảo coi như cách xa ngàn dặm.
Vì nguyên nhân của chúng sanh như thế, nên bất đắc dĩ Ngài mới ứng tích nhiều thời kỳ, đặng hóa độ các kẻ phàm loại trong nhơn gian đó thôi.

———————–
(Tạp Chí Từ Bi Âm)


Pictorial: Phật Thuyết A Di Ðà Kinh (The Buddha Speaks of Amitabha Sutra) 1

1

Phật Thuyết A Di Ðà Kinh
The Buddha Speaks of the Amitabha Sutra

2

2 Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Xá vệ quốc, Kỳ thọ Cấp cô độc viên, dữ đại Tỳ kheo tăng,
Thus I have heard, at one time the Buddha dwelt at Shravasti, in the Jeta Grove, in the Garden of the Benefactor of Orphans and the Forlorn, together with a gathering of Great Bhikshus,

Thiên nhị bách ngũ thập nhân câu, giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức:
Twelve-hundred fifty in all, all Great Arhats well-known to the assembly:

Trưởng Lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La,
Elders Shariputra, Mahamaudgalyayana, Mahakasyapa, Mahakatyayana, Mahakausthila,

Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa,
Revata, Suddhipanthaka, Nanda, Ananda, Rahula, Gavampati, Pindola-Bharadvaja,

Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, như thị đẳng chư đại đệ tử,
Kalodayin, Mahakaphina, Vakkula, Aniruddha, and others such as these, all Great Disciples,

Tinh chư Bồ Tát Ma ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Ða Bồ Tát, Càn Ðà Ha Ðề Bồ Tát,
Together with all the Bodhisattvas, Mahasattvas: Manjushri, Prince of Dharma, Ajita Bodhisattva, Gandhastin Bodhisattva,

Thường Tinh Tấn Bồ Tát, dữ như thị đẳng chư Ðại Bồ Tát, cập Thích Ðề Hoàn nhân đẳng, vô lượng chư thiên, đại chúng câu.
Nityodukta Bodhisattva, and others such as these, all Great Bodhisattvas, and together with Shakra, Chief among Gods, and the numberless great multitudes from all the heavens.

3

3 Nhĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá Lợi Phất: Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực lạc.
At that time, the Buddhas told the Elder Shariputra: From here, passing through hundreds of thousands of millions of Buddhalands to the West there is a world called Utmost Happiness.

4

4 Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết Pháp. Xá Lợi Phất, bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?
In this land, a Buddha called Amitabha right now teaches the Dharma. Shariputra, why is this land called Utmost Happiness?

Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực lạc.
All living beings of this country never suffer, but enjoy every bliss. Therefore it is called Utmost Happiness.

5

5 Hựu Xá Lợi Phất, Cực lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ,
Moreover, Shariputra, this land of Utmost Happiness is completely surrounded by seven tiers of railings, seven layers of netting, and seven rows of trees,

Giai thị tứ bảo châu táp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc.
All formed from the four treasures, and for this reason called Utmost Happiness.

6

6 Hựu Xá Lợi Phất, Cực lạc quốc độ hữu thất bảo trì, bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố địa.
Moreover, Shariputra, in the land of Utmost Happiness are pools of the seven jewels, filled with the waters of eight meritorious qualities; the bottom of each pool is pure, covered with golden sand.

Tứ biên giai đạo, kim, ngân, lưu ly, pha lê hợp thành, thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, nhi nghiêm sức chi.
On the four sides climb stairs of gold, silver, lapus lazuli, crystal, mother-of pearl, rubies, and carnelian.

Trì trung liên hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, hoàng sắc hoàng quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết.
In the pools bloom lotuses as large as carriage wheels with colors of green light, yellow light, red light, and white light, subtle, rare, fragrant, and pure.

Xá Lợi Phất, Cực Lạc quốc độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Shariputra, the Land of Utmost Happiness is crowned in splendor and virtues such as these.

Continues


Pictorial: Phật Thuyết A Di Ðà Kinh (The Buddha Speaks of Amitabha Sutra) 2

7

7 Hựu Xá Lợi Phất, bỉ Phật quốc độ, thường tác thiên nhạc, hoàng kim vi địa,
Moreover, Shariputra, in this Buddhaland heavenly music always plays, and the ground is made of gold.

Trú dạ lục thời, vũ thiên mạn đà la hoa. Kỳ độ chúng sanh, thường dĩ thanh đán,
In the six periods of the day and night a heavenly rain of mandarava flowers falls, and throughout the clear morning, each living being of this land,

Các dĩ y cách, thịnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật.
Offers sacks filled with myriads of wonderful flowers to the hundreds of thousands of millions of Buddhas of the other directions.

Tức dĩ thực thời, hoàn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành.
At mealtime they return to their own countries and after eating they walk about.

Xá Lợi Phất, Cực Lạc quốc độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Shariputra, the Land of Utmost Happiness is crowned in splendor and virtues such as these.

8

8 Phục thứ Xá Lợi Phất. Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, cộng mệnh chi điểu.
Moreover, Shariputra, in this country there are always rare and unusual birds of many kinds and colors: White geese, cranes, peacocks, parrots, egrets, kalavinkas, and two-headed birds.

Thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm.
In the six periods of the day and night the flocks of birds sing forth harmonious and elegant sounds.

9

9 Kỳ âm diễn xướng: ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, như thị đẳng pháp.
Their clear and joyful calls proclaim the Five Roots, the Five Powers, the Seven Limbs of Bodhi, the Eightfold Path of Sages, and dharmas such as these.

Kỳ độ chúng sanh, văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
When living beings of this land hear their calls they are altogether mindful of the Buddha, mindful of the Dharma, and mindful of the Sangha.

Xá Lợi Phất, nhữ vật vị thử điểu, thật thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà.
Shariputra! Do not say that these birds are born as retribution for their sins. And why not?

10

10 Bỉ Phật quốc độ, vô tam ác đạo. Xá Lợi Phất, kỳ Phật quốc độ, thượng vô ác đạo chi danh,
Because in this Buddha’s land the three evil paths do not exist. Shariputra, even the names of the three evil paths are unknown in this Buddha’s land,

Hà huống hữu thật. Thị chư chúng điểu, giai thị A Di Đà Phật, dục linh Pháp âm tuyên lưu, biến hóa sở tác.
How much the less could they actually exist! Wishing to proclaim the Dharma’s sound far and wide, Amitabha Buddha created these multitudes of birds by transformation.

11

11 Xá Lợi Phất, bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động, chư bảo hàng thụ, cập bảo la võng,
Shariputra, in that Buddha-land when the gentle winds blow, the rows of jewelled trees and jewelled nets

Xuất vi diệu âm, thí như bách thiên chủng nhạc, đồng thời câu tác.
Reverberate with fine and wondrous sounds, as a symphony of one hundred thousand kinds of music played in harmony.

12

12 Văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.
All who hear these sounds are naturally mindful of the Buddha, mindful of the Dharma, and mindful of the Sangha.

Xá Lợi Phất, kỳ Phật quốc độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Shariputra, the Land of Utmost Happiness is crowned in splendor and virtues such as these.

Previous..Next


Pictorial: Phật Thuyết A Di Ðà Kinh (The Buddha Speaks of Amitabha Sutra) 3

13

13 Xá lợi phất. Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Ðà.
Shariputra, what do you think? Why is this Buddha called Amitabha?

Xá Lợi Phất, bỉ Phật quang minh vô lượng.
Shariputra, the brilliance of that Buddha’s light is measureless,

Chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A Di Đà.
Illuminating the lands of the ten directions everywhere without obstruction, for this reason he is called Amitabha.

14

14 Hựu Xá Lợi Phất, bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên A Tăng Kỳ kiếp. Cố danh A Di Đà.
Moreover, Shariputra, the lifespan of that Buddha and that of his people extends for measureless, limitless asamkheya kalpas (asamkhyeyas of eons); For this reason he is called Amitayus.

Xá Lợi Phất, A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.
And Shariputra, since Amitabha became a Buddha, ten eons have passed.

15

15 Hựu Xá Lợi Phất, bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, giai A La Hán,
Moreover, Shariputra, that Buddha has measureless, limitless ‘Sound-hearer’ disciples, all Arhats,

Phi thị toán số chi sở năng tri. Chư Bồ Tát chúng, diệc phục như thị.
Their number incalculable; thus also is the assembly of Bodhisattvas.

Xá Lợi Phất, bỉ Phật quốc độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Shariputra, that Buddhaland is crowned in splendor and virtues such as these.

Hựu Xá Lợi Phất, Cực Lạc quốc độ, chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí.
Moreover, Sariputra, those living beings born in the land of the Ultimate Bliss are all Avaivartika.

Kỳ trung đa hữu nhất sanh bổ xứ. Kỳ số thậm đa,
Among them are many who in this very life will dwell in Buddhahood. Their number is extremely many;

Phi thị toán số sở năng tri chi, đãn khả dĩ vô lượng vô biên A Tăng Kỳ thuyết.
It is incalculable and only in measureless, limitless asamkyeyas of eons could they be counted.

16

16 Xá Lợi Phất, chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc.
Shariputra, those living beings who hear of this should vow, ‘I wish to be born in that country.’

Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ.
And why? Because those who are born there assemble in one place with people whose goodness is unsurpassed.

Xá Lợi Phất, bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc.
Shariputra, if one has few good roots, blessings, and virtues, one cannot be born in that land.

Xá Lợi Phất, nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu,
Shariputra, if there is a good man or good woman who hears of Amitabha and holds his name,

Nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn.
Whether for one day, two days, three, four, five days, six days, as long as seven days with one mind unconfused.

17

17 Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật, dữ chư Thánh Chúng, hiện tại kỳ tiền.
When this person approaches the end of life, before him will appear Amitabha and all the assembly of Holy Ones.

Thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ.
When the end comes, his mind will not be utterly confused, and in Amitabha’s Land of Utmost Happiness he will quickly be reborn.

Xá Lợi Phất, ngã kiến thị lợi cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.
Shariputra, because I see this benefit, I speak these words; and, if living beings hear this teaching they should make the vow: “I wish to be born in that land.”

18

18 Xá Lợi Phất, như ngã kim giả, tán thán A Di Đà Phật bất khả tư nghì công đức chi lợi.
Shariputra, just as I now praise the inconceivable benefits from the merit and virtue of Amitabha,

Đông Phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật,
So too in the East do Aksobya Buddha, Sumeru Appearance Buddha, Great Sumeru Buddha, Sumeru Light Buddha, Wonderful Sound Buddha,

Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc xuất quảng trường thiệt tướng
All Buddhas such as these, numberless as Ganges’ sands, each in his own country gives forth a vast and far-reaching sound

Biến phú Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, thuyết thành thật ngôn.
That pervades the Three Thousand Great Thousand Worlds, and proclaims these sincere and honest words:

Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị xưng tán bất khả tư nghì công đức, nhất thiết chư Phật sở hộ niệm Kinh.
‘All you living beings should believe in this sutra which all Buddhas praise for its inconceivable merit and virtue, a sutra they protect and bear in mind.’

Xá Lợi Phất, Nam Phương thế giới hữu Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật,
Shariputra, in the Southern World, Sun-Moon Lamp Buddha, Sumeru Lamp Buddha, Celebrated Light Buddha, Great Radiant Shoulders Buddha, Measureless Vigor Buddha,

Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới thuyết thành thật ngôn:
All Buddhas such as these, numberless as Ganges’ sands, each in his own country gives forth a vast and far-reaching sound that pervades the
Three Thousand Great Thousand Worlds and proclaims these sincere and honest words:

Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị xưng tán bất khả tư nghì công đức, nhất thiết chư Phật sở hộ niệm Kinh.
‘All you living beings should believe in this sutra which all Buddhas praise for its inconceivable merit and virtue, a sutra they protect and bear in mind.’

Xá Lợi Phất, Tây Phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật,
Shariputra, in the Western World, Measureless Life Buddha, Infinite Features Buddha, Measureless Curtain Buddha, Great Light Buddha, Great Clarity Buddha,
Jeweled Appearance Buddha, Pure Light Buddha,

Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn:
All Buddhas such as these, numberless as Ganges’ sands, each in his own country gives forth a vast and far-reaching sound that pervades the
Three Thousand Great Thousand Worlds and proclaims these sincere and honest words:

Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị xưng tán bất khả tư nghì công đức, nhất thiết chư Phật sở hộ niệm Kinh.
‘All you living beings should believe in this sutra which all Buddhas praise for its inconceivable merit and virtue, a sutra they protect and bear in mind.’

Xá Lợi Phất, Bắc Phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Võng Minh Phật,
Shariputra, in the Northern World, Radiant Shoulders Buddha, Most Glorious Sound Buddha, Invincible Buddha, Sun-Birth Buddha, Luminous Net Buddha,

Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn:
All Buddhas such as these, numberless as Ganges’ sands, each in his own country gives forth a vast and far-reaching sound that pervades the
Three Thousand Great Thousand Worlds and proclaims these sincere and honest words:

Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị xưng tán bất khả tư nghì công đức, nhất thiết chư Phật sở hộ niệm Kinh.
‘All you living beings should believe in this sutra which all Buddhas praise for its inconceivable merit and virtue, a sutra they protect and bear in mind.’

Xá Lợi Phất, Hạ Phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật,
Shariputra, in the World Below, Lion Buddha, Well-Known Buddha, Famous Light Buddha, Dharma Buddha, Dharma-Curtain Buddha, Upholding Dharma Buddha,

Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn:
All Buddhas such as these, numberless as Ganges’ sands, each in his own country gives forth a vast and far-reaching sound that pervades the
Three Thousand Great Thousand Worlds and proclaims these sincere and honest words:

Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị xưng tán bất khả tư nghì công đức, nhất thiết chư Phật sở hộ niệm Kinh.
‘All you living beings should believe in this sutra which all Buddhas praise for its inconceivable merit and virtue, a sutra they protect and bear in mind.’

Previous..Next